Tổng quan nghiên cứu

Sản phẩm “Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota" được được nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (POLYVAC).

Chi tiết nghiên cứu
  • Tên đề tài Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota
  • Phân loại Sản phẩm đang nghiên cứu

Thông tin chung

Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota là gì?
  • Vi rút Rota là nguyên nhân chính gây tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu. Hàng năm vi rút này gây ra hàng triệu ca tiêu chảy trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó hơn 2 triệu ca nhập viện và khoảng trên 500.000 ca tử vong, thậm chí cao hơn nếu không được chuẩn đoán và điều trị kịp thời [1]. Vi rút Rota gồm nhiều kiểu gen khác nhau trong đó kiểu G1P[8], G2P[4], G3P[8], G4P[8] và G9P[8] chiếm 90% trường hợp mắc tiêu chảy do vi rút Rota [2].
  • Bệnh do vi rút Rota thường có triệu chứng ban đầu là sốt nhẹ, nôn ói, đau bụng và sau đó là tiêu chảy ra nhiều nước kéo dài từ 3 – 8 ngày [3]. Mất nước xảy ra phổ biến hơn trong nhiễm vi rút Rota so với hầu hết các trường hợp nhiễm các tác nhân khác và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu liên quan đến nhiễm vi rút Rota [4]. Phân của một bệnh nhân có thể chứa tới 10¹¹ hạt vi rút. Các hạt vi rút Rota vẫn tồn tại trạng thái sống trên tay người ít nhất 4 giờ, trên bề mặt khô trong 10 ngày và ở điều kiện ướt khoảng vài tuần.
  • Một số phương pháp xét nghiệm chẩn đoán nhiễm vi rút Rota đã được sử dụng như ELISA, ngưng kết hạt nhựa và sắc ký miễn dịch. Khay thử này giúp phát hiện sự có mặt của vi rút Rota trong mẫu phân người, hỗ trợ cho việc chẩn đoán xác định căn nguyên ở bệnh nhân tiêu chảy cấp.
  • Phần này cung cấp cho bạn thông tin chi tiết về nguyên lý hoạt động, cách sử dụng, đối tượng chỉ định và các lưu ý quan trọng khi sử dụng khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota. Bạn sẽ tìm thấy đầy đủ hướng dẫn về bảo quản, chống chỉ định, quy cách thu mẫu và quy trình thử nghiệm khi sử dụng.

     
Nguyên lý hoạt động
  • Kháng thể kháng vi rút Rota được gắn cộng hợp với các hạt vàng dạng keo tụ và được hấp phụ trên miếng cộng hợp. Kháng thể kháng vi rút Rota được cố định tại vị trí vạch kiểm tra (T) của khay thử. Protein A được cố định tại vị trí vạch kiểm chứng (C).
  • Khi trong mẫu có vi rút Rota được nhỏ vào khay thử sẽ tạo thành phức vi rút Rota – kháng thể kháng vi rút Rota – hạt nano vàng. Phức hợp này sẽ di chuyển dọc màng nitrocellulose nhờ đặc tính mao dẫn tới vạch kiểm tra (T), tại đây sẽ bị bắt giữ bởi kháng thể khang virút rota tạo thành phức hợp. kháng thể kháng vi rút Rota – vi rút Rota – kháng thể kháng vi rút Rota – hạt nano vàng hình thành một vạch màu hồng tía và thể hiện trạng thái dương tính.
  • Phần cộng hợp còn lại (kháng thể kháng vi rút Rota – hạt nano vàng) không được bắt giữ bởi kháng thể sẽ di chuyển tới vạch kiểm chứng và bị bắt lại bởi protein A sẽ cho vạch màu hồng tía chứng tỏ khay thử hoạt động bình thường.
  • Như vậy, khi xuất hiện cả 2 vạch hồng tía ở vạch kiểm tra và vạch kiểm chứng, chứng tỏ mẫu thử dương tính với vi rút Rota, khi chỉ có một vạch hồng tía ở vị trí đối chứng, kết luận mẫu thử âm tính với vi rút Rota.
Vật tư không đi kèm nhưng cần có
  • Thiết bị đo thời gian
  • Bút viết
  • Dung cụ đựng mẫu phẩm
  • Găng tay
  • Khẩu trang
  •  
Cảnh báo và thận trọng
  • Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi tiến hành xét nghiệm. Thao tác sai có thể cho kết quả không chính xác.
  • Kiểm tra tính nguyên vẹn trước khi sử dụng. Không sử dụng bộ xét nghiệm nếu túi thiếc bị thủng, rách hoặc thiếu túi hút ẩm.
  • Để các thành phần của bộ xét nghiệm về nhiệt độ phòng trước khi sử dụng.
  • Chỉ lấy khay thử ra khỏi túi khi đã sẵn sàng làm xét nghiệm.
  • Không tái sử dụng lại bộ xét nghiệm.
  • Không sử dụng bộ xét nghiệm khi đã hết hạn sử dụng.
  • Không sử dụng bộ xét nghiệm khi không được bảo quản đúng hướng dẫn.
Hướng dẫn chuẩn bị và bảo quản sản phẩm

Bảo quản các khay thử chưa sử dụng và các thiết bị lấy mẫu phân chưa mở ở 2-30 ° C. Trường hợp bảo quản ở 2-8 °C, phải đảm bảo các khay thử và dụng cụ lấy mẫu phân có chứa đệm chiết mẫu được đưa về nhiệt độ phòng trước khi sử dụng. Không được đóng băng hoặc để thiết bị ở nhiệt độ trên 30 °C. Không được sử dụng thiết bị quá hạn sử dụng in trên bao bì.

Thu mẫu và xử lý mẫu phẩm

Để chuẩn bị mẫu bệnh phẩm từ mẫu phân rắn, thực hiện theo quy trình A. Trường hợp mẫu bệnh phẩm từ mẫu phân lỏng, thực hiện theo quy trình B.

Quy trình A: Lấy mẫu phân rắn

  • Bước 1: Thu mẫu phân ngẫu nhiên vào một vật chứa khô và sạch.
  • Bước 2: Mở nắp lọ chiết mẫu, chọc que lấy mẫu (gắn liền với nắp lọ chiết mẫu) vào mẫu phân ít nhất tại 5 vị trí khác nhau để lấy được khoảng 10 mg mẫu. Lưu ý: Đối với mẫu phân rắn cần xác nhận mẫu phân đã bám vào rãnh trên que lấy mẫu; mẫu được lấy tại vị trí phân nhày, nhớt.
  • Bước 3: Đậy nắp vào lọ và vặn chặt.
  • Bước 4: Trộn mẫu phân với đệm bằng cách lắc mạnh lọ và để khoảng 20 giây.

Quy trình B: Lấy mẫu phân lỏng

  • Bước 1: Thu mẫu phân ngẫu nhiên vào một vật chứa khô và sạch.
  • Bước 2: Mở nắp lọ chiết mẫu.
  • Bước 3: Dùng ống nhỏ giọt hút mẫu phân và nhỏ 6 giọt (100-120 µl) vào lọ chiết mẫu.
  • Bước 4: Đậy nắp vào lọ và vặn chặt.
  • Bước 5: Trộn mẫu phân với đệm bằng cách lắc mạnh lọ và để 20 giây.
Quy trình thử nghiệm
  • Bước 1: Đảm bảo mẫu phẩm và khay thử ở nhiệt độ phòng trước khi thử nghiệm. Sau khi mẫu được rã đông, trộn đều trước khi thực hiện xét nghiệm.
  • Bước 2: Mở túi thiếc, lấy khay thử và đặt trên một mặt phẳng và sạch.       
  • Bước 3: Lắc mạnh lọ chiết mẫu để đảm bảo dung dịch bên trong được đồng nhất.
  • Bước 4: Giữ lọ chiết mẫu ở phương thẳng đứng. Tháo bỏ nắp đậy. Nhỏ 3 giọt mẫu thử sau khi chiết (90-120 µl) vào cửa sổ nạp mẫu của khay thử.
  • Bước 5: Hẹn giờ.
  • Bước 6:  Kết quả được đọc sau 7 – 10 phút. Không đọc kết quả sau 10 phút vì kết quả có thể không còn chính xác.
Kiểm tra chất lượng

Vạch chứng C được thiết kế tích hợp trong que thử để kiểm tra quy trình xét nghiệm. Các chứng âm và chứng dương chuẩn không cấp kèm theo bộ xét nghiệm. Tuy nhiên nếu cần thiết, có thể kiểm tra chất lượng bằng các mẫu chứng âm và chứng dương tại phòng thí nghiệm để khẳng định quy trình và hiệu quả của sản phẩm.

Đọc kết quả

1. ÂM TÍNH: Chỉ xuất hiện 1 vạch hồng tía ở vị trí C, kết quả là Âm tính.
2. DƯƠNG TÍNH: Khi vạch hồng tía xuất hiện ở cả 2 vị trí T và C, kết quả Dương tính với vi rút Rota. Cường độ vạch T có thể đậm, nhạt phụ thuộc hàm lượng vi rút Rota có trong mẫu.
3. KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ: khi không xuất hiện vạch hồng tía ở vị trí C trong cửa sổ đọc kết quả.

Kết quả dương tính nên được xem xét kết hợp biểu hiện lâm sàng và các dữ liệu khác có sẵn cho bác sĩ.

Hiệu quả chẩn đoán

1. Hiệu quả lâm sàng
412 mẫu phân âm tính và 253 mẫu phân dương tính đã được xét nghiệm bằng Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota (Polyvac Rota Ag Rapid Test) để xác định độ nhạy và độ đặc hiệu của sản phẩm. Các mẫu phân được lấy từ các bệnh nhân cũng đã được khẳng định âm tính hay dương tính với vi rút rota bằng phương pháp tham chiếu ELISA. Kết quả cho thấy Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota (Polyvac Rota Ag Rapid Test) có độ nhạy đạt 95,26% và độ đặc hiệu 99,51%.

 2. Phản ứng chéo
Khay thử xét nghiệm định tính kháng nguyên vi rút Rota (Polyvac Rota Ag Rapid Test) không có phản ứng chéo với các vi rút khác và các vi khuẩn thường có trong mẫu phân, gồm Vi rút Noro, Vi rút Adeno, Vi rút Đường ruột, Escherichia coli, Listeria monocystogenes, Campylobacter coli, Salmonella paratyphi, Salmonella typhimurium, Shigella boydii, Shigella flexneri, Shigella sonnei, Staphylococous aureus, Vibrio cholerae, Vibrio haemolyticus, Candida albicans, Proteus mirabilias (Bảng 2).

Hạn chế của que thử
  1. Kết quả âm tính cho biết trong mẫu không có sự xuất hiện của vi rút Rota. Tuy nhiên kết quả âm tính không loại trừ khả năng nhiễm vi rút Rota, nguyên nhân có thể là do lượng vi rút Rota trong mẫu nhỏ hơn độ nhạy của khay thử hoặc vi rút Rota không tồn tại trong mẫu phân khi được lấy.
  2. Kết quả dương tính không ngoại trừ khả năng nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh đường ruột khác. Mặc dù khay thử không có phản ứng chéo với một số tác nhân được nêu ở trên, nhưng cũng có thể nhiễm đồng thời các vi sinh vật gây bệnh khác. Các xét nghiệm vi sinh bổ sung nên được thực hiện song song với khay thử để loại trừ các nguyên nhân có thể gây bệnh khác.
  3. Kết quả xét nghiệm phải được xem xét kết hợp với các kết quả xét nghiệm khác, thông tin dịch tễ và biểu hiện lâm sàng.