Tổng quan nghiên cứu

Sản phẩm “Que thử xét nghiệm định tính kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue" được được nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (POLYVAC).

Chi tiết nghiên cứu
  • Tên đề tài Que thử xét nghiệm định tính kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue
  • Phân loại Sản phẩm đang nghiên cứu

Thông tin chung

Que thử xét nghiệm định tính kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue là gì?
  • Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm vi rút cấp tính nguy hiểm, được lan truyền từ người bệnh sang người lành chủ yếu thông qua muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus nhiễm vi rút [2]. Tác nhân gây bệnh là do vi rút Dengue thuộc họ Flaviviridae gồm có 4 týp huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 [1]. Bệnh hiện tại không có thuốc điều trị đặc hiệu, nên biện pháp phòng chống hiệu quả hiện nay là ngăn chặn và kiểm soát véc tơ truyền bệnh [3]. Dựa vào mức độ của bệnh, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân chia SXHD thành ba mức độ gồm SXHD, SXHD có dấu hiệu cảnh báo và SXHD nặng [3].
  • Một số phương pháp xét nghiệm chẩn đoán nhiễm vi rút Dengue đã được sử dụng như ELISA, Realtime PCR và sắc ký miễn dịch. Que thử này giúp phát hiện sự có mặt kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue trong mẫu huyết thanh/ huyết tương, hỗ trợ cho việc chẩn đoán xác định người nhiễm vi rút Dengue.
  • Que thử xét nghiệm định tính kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch để phát hiện định tính kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue trong mẫu huyết thanh/ huyết tương. Xét nghiệm này giúp hỗ trợ chẩn đoán, sàng lọc người nhiễm vi rút Dengue.
 
Nguyên lý hoạt động
  • Kháng thể chuột kháng NS1 của vi rút Dengue được gắn cộng hợp với các hạt vàng dạng keo tụ và được hấp phụ trên miếng cộng hợp. Kháng thể chuột kháng NS1 của vi rút Dengue được cố định tại vị trí vạch kiểm tra (T) của que thử. Kháng thể dê kháng kháng thể chuột được cố định tại vị trí vạch kiểm chứng (C).
  • Khi trong mẫu có kháng nguyên NS1 (type 1-4) của vi rút Dengue sẽ tạo thành phức protein NS1 (type 1-4) – kháng thể kháng NS1 – hạt nano vàng. Phức hợp này sẽ di chuyển dọc màng nitrocellulose nhờ đặc tính mao dẫn tới vạch kiểm tra (T), tại đây sẽ bị bắt giữ bởi kháng thể kháng NS1 tạo thành phức hợp: kháng thể kháng NS1 – protein NS1(type 1-4) – kháng thể kháng NS1 – hạt nano vàng hình thành một vạch tại vị trí vạch T và thể hiện trạng thái dương tính.
  • Phần cộng hợp còn lại (kháng thể kháng NS1 – hạt nano vàng) không được bắt giữ bởi kháng thể sẽ di chuyển tới vạch kiểm chứng và bị bắt lại bởi kháng thể dê kháng kháng thể chuột sẽ cho tín hiệu tại vị trí vạch C chứng tỏ que thử hoạt động bình thường.
  • Như vậy, khi xuất hiện tín hiệu ở cả 2 vị trí vạch kiểm tra (vạch T) và vạch kiểm chứng (vạch C), chứng tỏ mẫu thử dương tính với kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue, khi chỉ có một vạch ở vị trí kiểm chứng, kết luận mẫu thử âm tính với kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue.
Vật tư không đi kèm nhưng cần có
  • Thiết bị đo thời gian
  • Bút viết
  • Giá để tuýp
  • Găng tay
  • Khẩu trang
  • Pipet
  • Đầu tip
  •  
Cảnh báo và thận trọng
  • Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi tiến hành xét nghiệm. Thao tác sai có thể cho kết quả không chính xác.
  • Kiểm tra tính nguyên vẹn trước khi sử dụng. Không sử dụng bộ xét nghiệm nếu túi thiếc bị thủng, rách hoặc thiếu túi hút ẩm.
  • Để các thành phần của bộ xét nghiệm về nhiệt độ phòng trước khi sử dụng.
  • Chỉ lấy khay thử ra khỏi túi khi đã sẵn sàng làm xét nghiệm.
  • Không tái sử dụng lại bộ xét nghiệm.
  • Không sử dụng bộ xét nghiệm khi đã hết hạn sử dụng.
  • Không sử dụng bộ xét nghiệm khi không được bảo quản đúng hướng dẫn.
Quy cách đóng gói
  • Bảo quản các que thử chưa sử dụng và các thành phẩn của sản phẩm ở 2-30°C.
  • Trường hợp bảo quản ở 2-8 °C, phải đảm bảo các que thử và các thành phần được đưa về nhiệt độ phòng trước khi sử dụng. Không được đóng băng hoặc để thiết bị ở nhiệt độ trên 30 °C. Không được sử dụng thiết bị quá hạn sử dụng in trên bao bì.
Thu mẫu và xử lý mẫu phẩm

Để chuẩn bị mẫu bệnh phẩm từ mẫu huyết thanh/ huyết tương theo quy trình sau:

  • Bước 1: Lấy 1-2ml máu của bệnh nhân, cho vào ống không có chất chống đông để tách huyết thanh hoặc cho vào ống có chất chống đông để tách huyết tương.
  • Bước 2: Để ống máu tại nhiệt độ phòng 30 phút để tách huyết thanh/ huyết tương.
  • Bước 3: Ly tâm 3000 vòng/phút trong thời gian 10 phút, thu huyết thanh/ huyết tương vào tuýp đựng và bảo quản ở nhiệt độ -20°C cho đến khi thực hiện xét nghiệm.
Quy trình thử nghiệm
  • Bước 1: Đảm bảo mẫu phẩm và que thử ở nhiệt độ phòng trước khi thử nghiệm. Sau khi mẫu được rã đông, trộn đều trước khi thực hiện xét nghiệm.
  • Bước 2: Đặt tuýp chạy mẫu vào giá đựng tuýp và đặt trên một mặt phẳng.     
  • Bước 3: Nhỏ 2 giot (60-80 µl) dung dịch đệm vào tuýp chạy mẫu.
  • Bước 4: Dùng pipet hút 30 µl mẫu vào tuýp chạy mẫu (đã chứa dung dịch đệm) và trộn đều bằng pipet.
  • Bước 5:  Mở túi thiếc lấy que thử và đặt vào tuýp chạy mẫu.
  • Bước 6: Hẹn giờ.
  • Bước 7: Kết quả được đọc sau 15 phút. Không đọc kết quả sau 15 phút vì kết quả có thể không còn chính xác.
Kiểm tra chất lượng

Vạch chứng C được thiết kế tích hợp trong que thử để kiểm tra quy trình xét nghiệm. Các chứng âm và chứng dương chuẩn không cấp kèm theo bộ xét nghiệm. Tuy nhiên nếu cần thiết, có thể kiểm tra chất lượng bằng các mẫu chứng âm và chứng dương tại phòng thí nghiệm để khẳng định quy trình và hiệu quả của sản phẩm.

Đọc kết quả

1. ÂM TÍNH: Chỉ xuất hiện 1 vạch hồng tía ở vị trí C, kết quả là Âm tính.
2. DƯƠNG TÍNH: Khi vạch hồng tía xuất hiện ở cả 2 vị trí T và C, kết quả Dương tính với kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue. Cường độ vạch T có thể đậm, nhạt phụ thuộc hàm lượng kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue có trong mẫu
3. KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ: khi không xuất hiện vạch hồng tía ở vị trí C trong cửa sổ đọc kết quả.

Kết quả dương tính nên được xem xét kết hợp biểu hiện lâm sàng và các dữ liệu khác có sẵn cho bác sĩ.

Hạn chế của que thử
  1. Kết quả âm tính cho biết trong mẫu không có sự xuất hiện kháng nguyên NS1 của vi rút Dengue. Tuy nhiên kết quả âm tính không loại trừ khả năng nhiễm vi rút Dengue, nguyên nhân có thể là do lượng kháng nguyên NS1 trong mẫu nhỏ hơn độ nhạy của que thử.
  2. Kết quả dương tính không ngoại trừ khả năng nhiễm kháng nguyên NS1 của các loại vi sinh vật gây bệnh khác.
  3. Kết quả xét nghiệm phải được xem xét kết hợp với các kết quả xét nghiệm khác, thông tin dịch tễ và biểu hiện lâm sàng.